Mẩu Xương Và Lời Nguyền

Vui lòng bấm vào nút bên dưới để mở khóa toàn bộ truyện! (Nút mở khoá chỉ xuất hiện 1 lần duy nhất)
MỞ KHÓA NỘI DUNG


Tôi sinh ra với cơ thể yếu ớt tới mức ai cũng bảo là "đứa trẻ khó nuôi", chẳng biết sẽ rời bỏ thế gian này lúc nào. Cho đến năm bảy tuổi, tôi vô tình nhặt được một mẩu xương nhỏ, sức khỏe đột nhiên chuyển biến tốt một cách kỳ lạ. Nhưng mẹ tôi lại nhất quyết đòi vứt mẩu xương đó đi...

Trước khi nhặt được mẩu xương ấy, tôi chỉ là một đứa trẻ dặt dẹo của nhà họ Phương. Cơ thể gầy gò, héo hon như thể cái chết đang cận kề. Đi khắp các bệnh viện cũng chẳng tìm ra nguyên nhân bệnh tật. Mẹ tôi thậm chí còn đổi tên cho tôi thành Phương Thiên Tục.

Thiên Tục, Thiên Tục – nghĩa là mong ý trời cho nối dài mạng sống. Có lẽ tấm chân tình của mẹ đã khiến ông trời động lòng. Cho đến năm tôi bảy tuổi, tại một đoạn ngã tư đường cũ, tôi đã nhặt được một mẩu xương nhỏ.

Mẩu xương đó có hình dáng giống như món đồ chơi của trẻ con vùng phương Bắc, nhưng nó nhỏ hơn, lại còn trong suốt và lấp lánh như ngọc. Sắc trắng như sữa, tinh khiết không một chút tạp chất. Khi tôi nắm nó trong lòng bàn tay, một cảm giác mát lạnh thấu xương truyền đến, tựa như có một dòng suối trong lành len lỏi qua gan bàn tay, hòa tan vào tận sâu trong cơ thể.

Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nhận được sự nhẹ nhõm chưa từng có. Tôi háo hức chạy ngay về nhà để khoe với mẹ. Lúc đó mẹ tôi đang bận bịu, đâu có tâm trí nào để ý đến cái vật nhỏ tôi nhặt được dọc đường. Bà lo lắng cúi xuống, hết xoa đầu lại nắn vai tôi.

"Mẹ đã bảo con không được chạy nhảy lung tung rồi mà! Thấy thế nào? Có chỗ nào không khỏe không?"

Tôi không hề ho hay thở dốc, đầu lắc như trống bỏi. Mẹ vẫn không yên tâm, giữ chặt lấy tôi hồi lâu vì sợ tôi sẽ ngã gục xuống đất bất cứ lúc nào.

Chiều tối hôm đó, mẹ vừa hấp xong mẻ bánh bao, bảo tôi bưng một đĩa sang cho nhà thím ở ngay cạnh. Vừa bước chân vào sân nhà thím, tôi đã thấy một bóng người đàn ông cứ lảng vảng trước cửa sổ.

"Chú tìm ai ạ?" Tôi cất tiếng hỏi.

Người đàn ông đó giật mình, quay người lại nhìn tôi với ánh mắt kinh ngạc tột độ.

"Cháu... sao cháu lại..."

Hắn nói được một nửa rồi im bặt. Tôi bèn hỏi tiếp:

"Chú đến thăm nhà thím cháu ạ? Để cháu dẫn chú vào nhé?"

Người đàn ông hốt hoảng xua tay: "Không, không phải, chú đi nhầm nhà thôi."

Hắn quay lưng định rời đi, nhưng đi được vài bước lại ngoảnh đầu nhìn tôi mỉm cười. Hắn nói: "Tiểu Thiên Tục, cháu đáng yêu lắm."

Tôi cứ cảm thấy người này trông rất quen mắt. Sau khi về nhà, tôi kể lại chuyện này cho mẹ nghe. Ban đầu mẹ không mấy bận tâm, nhưng sau đó dường như chợt nhận ra điều gì, bà vội hỏi:

"Con nói là người đó biết tên con sao?"

"Vâng, chú ấy còn khen con đáng yêu nữa."

Mẹ tôi bắt đầu lộ vẻ bất an. Vùng này nhỏ bé, hàng xóm láng giềng đều là những người quen biết nhau vài chục năm, chẳng có ai là người lạ cả. Hơn nữa, một người lạ mặt làm sao có thể gọi đúng tên tôi được?

Ngay lúc đó, tôi chợt nhớ ra tại sao người đàn ông ấy lại trông quen thuộc đến thế. Tôi hào hứng reo lên: "Chú ấy trông rất giống người trong bức ảnh treo trên tường nhà thím ấy mẹ! Đến cả nốt ruồi ở đuôi mắt cũng y hệt luôn!"

Sắc mặt mẹ tôi lập tức trở nên tái mét, xấu xí vô cùng. Bởi vì, người cậu đó đã mất từ trước khi tôi chào đời.

Sáng sớm hôm sau, mẹ tôi đã vội vã ra khỏi nhà. Lúc trở về, chẳng hiểu vì sao bà lại hớt hải giật lấy mẩu xương nhỏ tôi nhặt được. Tôi thấy mẹ dùng một mảnh vải đỏ gói mẩu xương lại thật kỹ, rồi khóa chặt trong một chiếc hộp sắt.

Bà đặt chiếc hộp đó cạnh đống than ở gian ngoài, còn lấy thêm một cây rìu đè lên phía trên. Tôi hỏi lý do nhưng bà không nói, chỉ dặn tôi tuyệt đối không được động vào chiếc hộp đó.

Đêm đó, tôi mơ màng phát bệnh, cơn sốt cao không dứt khiến cả người nóng hầm hập như sắp bị nung chín. Trong cơn mê sảng, tôi cảm giác mẹ đã nhét thứ gì đó xuống dưới người mình. Đến khi trời sáng tỉnh dậy, tôi lại thấy sảng khoái lạ thường.

Đưa tay vào túi áo, mẩu xương nhỏ đó đã nằm gọn gàng bên trong từ lúc nào. Tôi vui mừng khôn xiết, vừa nhảy nhót vừa reo hò:

"Mẹ ơi, sao mẹ lại trả mẩu xương cho con thế?"

Mẹ tôi khẽ thở dài, gương mặt đầy vẻ ưu tư: "Con cứ giữ lấy trước đi."

Không quá hai ngày sau, mẹ lại đưa tôi ra ngoài. Đi ngang qua đoạn ngã tư cũ, tôi thấy có rất đông người tụ tập. Nhưng tất cả đều là những khuôn mặt lạ lẫm, không có lấy một người hàng xóm quen thuộc nào.

"Hôm nay ở đây sao đông người thế mẹ?" Tôi tò mò hỏi.

"Ừ." Mẹ liếc mắt nhìn quanh một lượt rồi không nói gì thêm.

Nhưng tôi vẫn không kìm được sự hiếu kỳ: "Họ chen chúc ở đây làm gì vậy ạ?"

Mẹ chỉ trả lời qua loa rồi đạp xe nhanh hơn. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đến nhà một vị đại sư. Sau này tôi mới biết, đó là một bà đồng (Xuất Mã Tiên) rất có tiếng tăm, nghe nói có khả năng bấm quẻ và xua đuổi những thứ không sạch sẽ.

Vừa gặp đại sư, mẹ tôi đã vô cùng khẩn thiết: "Đúng như lời bà nói, đúng là do mẩu xương đó. Bây giờ nó cứ bám riết lấy con trai tôi, phải làm sao đây? Xin bà nhất định phải giúp tôi đưa nó đi."

Tôi cảm thấy rất khó hiểu: "Sao lại phải đưa đi hả mẹ? Con thích mẩu xương này mà."

"Im miệng, không được nói bậy!" Mẹ hiếm khi gắt gỏng với tôi như vậy.

Thấy vẻ mặt tủi thân của tôi, bà cố gắng kiềm chế cảm xúc, xoa đầu tôi nói: "Thiên Tục, nghe lời mẹ, mẩu xương này không phải là thứ tốt lành, chúng ta không thể giữ nó lại được."

Tôi chưa bao giờ thấy mẹ như vậy – lo âu, bất an, dường như còn ẩn chứa một nỗi sợ hãi không thể gọi tên. Thế là tôi không dám phản kháng nữa.

Vị đại sư là một người phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi, gầy rộc đến đáng sợ, gần như chỉ còn da bọc xương. Giữa hai lông mày của bà có điểm một nốt đen, trông khá kỳ dị. Nhưng khi bà cất tiếng nói thì vẫn giống như người bình thường.

Sau khi mẹ nói chuyện qua với bà vài câu, bà dặn tôi: "Lát nữa dù có chuyện gì xảy ra, cháu cũng đừng sợ, có mẹ ở đây rồi."

Tôi gật đầu. Chỉ một lúc sau, tôi đã hiểu tại sao mẹ lại dặn dò như thế. Bởi vì, vị đại sư bắt đầu có những biểu hiện vô cùng bất thường.

Tôi thấy bà thắp ba nén hương, quỳ trước một bài vị rồi lạy chín lạy. Miệng lẩm bẩm vài câu thần chú, sau đó bà đứng dậy ngồi đối diện với tôi và bắt đầu ngáp liên tục. Chỉ một lát sau, bà nhắm nghiền mắt, toàn thân run rẩy dữ dội.

Khi bà mở miệng nói lại, giọng điệu và tốc độ nói đã hoàn toàn thay đổi, ngay cả giọng địa phương nghe cũng khác hẳn. Ngăn cách giữa tôi và bà là một chiếc bàn gỗ. Bất thình lình, bà xòe lòng bàn tay hướng về phía tôi.

"Đưa tay đây!"

Dù bình thường tôi khá gan dạ, nhưng tình cảnh này cũng khiến tôi thấy rợn tóc gáy. Thấy mẹ gật đầu, tôi chậm rãi đưa tay ra. Bà dùng tay trái khẽ bóp lấy ngón tay tôi.

"Bát tự... cứng lắm!"

Tay phải bà dùng ngón cái liên tục bấm vào các đốt ngón tay khác: "Có sự quấy nhiễu từ bên ngoài!"

Một lúc sau, bà buông tay tôi ra, lại xòe lòng bàn tay một lần nữa: "Đồ vật không sạch sẽ đâu?"

Tôi ngẩn người, mẹ khẽ nhắc: "Mẩu xương nhỏ đó con."

Thế là tôi lấy mẩu xương từ trong túi ra, luyến tiếc mãi mới chậm chạp đặt vào lòng bàn tay bà. Không ngờ ngay giây tiếp theo, một sự việc cực kỳ quái dị đã xảy ra.

Chỉ vừa chạm vào mẩu xương, bà như bị nước sôi dội trúng tay, lập tức hất văng mẩu xương lên mặt bàn. Ngay sau đó, cơ thể bà run rẩy dữ dội hơn, từ đôi mắt nhắm nghiền, nước mắt cứ thế tuôn ra không ngừng.

Đột nhiên, bà dùng trán đập mạnh liên tiếp xuống mặt bàn. Miệng không ngừng lặp đi lặp lại: "Không dám, không dám, không dám..."

Thấy vậy, mẹ kéo tôi sát vào lòng. Nghe nói khi các vị tiên đang ngự trên người bà đồng thì việc làm phiền là điều đại kỵ. Mẹ không dám lên tiếng, nhưng tôi thì thực sự không chịu nổi nữa. Nhìn trán của vị đại sư đã đỏ bừng lên vì va đập, cả người dường như sắp ngất đi vì khóc, tôi khẽ lên tiếng ngăn cản:

"Đừng đập đầu nữa ạ..."

Mẹ sợ hãi vội bịt miệng tôi lại. Nhưng vị đại sư đột ngột ngồi thẳng dậy, một lúc sau thì mở mắt ra, trở lại trạng thái bình thường.

"Thế nào rồi đại sư? Đã đưa đi được chưa ạ?" Mẹ tôi lo lắng hỏi.

Vị đại sư lắc đầu, yếu ớt đứng dậy đi tới cạnh bát hương, cầm lấy số tiền mà mẹ tôi đã đặt ở đó lúc mới vào. Bà lẩm bẩm: "Không đưa đi được, không ai đưa đi được đâu."

"Sau này đừng đến đây nữa, không ai giúp được đâu."

Dường như bà không dám ngẩng đầu nhìn tôi lấy một lần. Chỉ cúi gằm mặt, đôi bàn tay run rẩy, bà ép mẹ tôi phải nhận lại số tiền. Bà cũng không đuổi chúng tôi đi ngay, mà tự mình trốn vào căn phòng khác, mặc cho mẹ tôi có gọi thế nào cũng không chịu ra mặt nữa.

Sau chuyện đó, mẹ còn đưa tôi đi gặp thêm mấy vị đại sư nữa. Bà quyết tâm phải tống khứ mẩu xương này đi, dù có tốn bao nhiêu tiền cũng được. Nhưng kỳ lạ ở chỗ, không một ai dám nhận vụ này. Dường như chỉ trong chớp mắt, ngay cả những thầy bói dạo cũng trở nên "thật thà" lạ thường.

Trong khi đó, tôi mang theo mẩu xương này, sức khỏe ngày một tốt lên rõ rệt. Nhưng hễ mẩu xương rời khỏi người là tôi lại quay về trạng thái ốm yếu dặt dẹo như trước. Mẹ không còn cách nào khác, đành đục một cái lỗ nhỏ trên mẩu xương, luồn một sợi dây mảnh rồi đeo vào cổ tôi.

Mẩu xương nhỏ ấy đã trở thành "bùa hộ mệnh" bất đắc dĩ của tôi.

Kể từ khi đeo mẩu xương, thỉnh thoảng mẹ lại hỏi tôi: "Dạo này quanh đây con có thấy người nào lạ mặt không?"

Hồi đầu đúng là thường xuyên có vài người lạ lảng vảng quanh đoạn ngã tư cũ, nhưng sau đó dần dần không thấy nữa. Mọi chuyện trôi qua yên bình suốt tám năm trời.

Tôi giờ đây đã là một chàng trai mười lăm tuổi, hoạt bát như một con sóc rừng, thậm chí trông còn rắn rỏi hơn những bạn cùng trang lứa. Một hôm, trên đường đi học về ngang qua đoạn ngã tư cũ, tôi lại thấy nơi đó chật kín người. Ngay cả đoàn tàu hỏa cũng phải dừng lại giữa chừng.

Tôi biết chắc lại có chuyện không may xảy ra rồi. Vùng này là nơi tiếp giáp giữa thành thị và nông thôn, không có nhà cao tầng, cũng chẳng có ruộng vườn. Thứ đặc biệt duy nhất chỉ có đường ray xe lửa này. Trên con đường đất duy nhất dẫn vào làng có một đoạn giao cắt rất sơ sài, không có rào chắn hay lưới bảo vệ. Năm nào ở đây cũng có người tìm đến sự giải thoát bằng cách lao vào đoàn tàu. Đối với chúng tôi, chuyện tàu hỏa va chạm không còn là điều gì mới mẻ nữa.

Nhưng chuyện hôm nay thì quả thực là lạ. Bởi vì nạn nhân là một ông lão không có người thân đến nhận dạng. Ông ấy trông không giống người lang thang, nhưng mãi chẳng thấy gia đình đến đưa về. Vào thời buổi internet chưa phổ biến, thi thể ông lão được phủ một tấm vải trắng, đặt nằm cạnh chân tường bên đường ray để chờ người quen truyền miệng đến nhận diện. Phải sau ba ngày nếu không có ai đến, người ta mới đưa đi.

Giữa cái mùa đông phương Bắc lạnh cắt da cắt thịt, việc đặt thi thể ở ngoài trời ba ngày vốn không ảnh hưởng gì, nhưng lại khiến lòng người hoang mang tột độ. Con đường này là lối đi duy nhất, ai nấy qua lại đều phải đi ngang qua đoạn ngã tư đó. Bảo không sợ thì chắc chắn là nói dối. Trong ba ngày ấy, ai cũng hạn chế ra khỏi nhà.

Lòng người vốn đã bất ổn, vậy mà trong ba ngày đó lại xảy ra một chuyện còn rùng rợn hơn. Ngay đêm thứ hai sau khi ông lão mất, thím Trương ở nhà trước đột nhiên chạy ra ngoài giữa đêm khuya. Gió rít gào thảm thiết. Khi chú Trương tìm thấy thím, thím đang ngồi ngay cạnh thi thể ông lão, đầu nghiêng sang một bên như thể đang trò chuyện tâm tình với ai đó. Nhưng giữa đêm hôm khuya khoắt, ngoài một cái xác lạnh lẽo ra thì còn có ai khác nữa đâu?

Chú Trương sợ chết khiếp, vội vàng kéo thím về nhà. Ngày hôm sau, thi thể ông lão được đưa đi, nhưng thím Trương thì đột nhiên trở nên điên dại. Thím nói năng lảm nhảm đã đành, rùng rợn hơn là thím còn lao vào chuồng gà, bắt lấy một con rồi định đưa lên miệng khiến ai nấy đều kinh hãi.

Kỳ quái hơn nữa là ngày nào thím cũng ngồi dưới gốc liễu bên ngoài tường nhà tôi mà khóc lóc thảm thiết. Miệng không ngừng lẩm bẩm: "Con của tôi chết thảm quá!" Trong khi rõ ràng con trai thím vẫn đang đứng sờ sờ ngay cạnh đó. Cảnh tượng khiến ai nhìn thấy cũng phải rùng mình, lạnh sống lưng.

Vài ngày sau, thím Trương đột nhiên bế đứa con trai năm tuổi của mình định lao vào đường ray khi đoàn tàu đang lao tới. Mọi người phải vất vả lắm mới cản lại được và giúp chú Trương trói thím lại. Trong đám đông đó, tôi thoáng thấy một bóng lưng lạ lẫm. Người đó mặc bộ quần áo màu xanh đậm, dáng đi tập tễnh.

"Ông cụ kia là người nhà ai nhỉ? Sao chưa thấy bao giờ?"

Như nghe thấy tiếng lòng của tôi, người đó vừa mới đi xa được một đoạn bỗng dừng bước, chậm rãi quay người lại nhìn tôi một cái. Chẳng biết vì sao, tôi đột nhiên cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.

Sau khi đám đông tản đi, tôi định về nhà thì thấy một chiếc giày dưới đất. Đó là giày của thím Trương, chắc là đánh rơi lúc giằng co vừa rồi. Thế là tôi nhặt chiếc giày lên, đi thẳng sang nhà chú Trương.

Vừa vào sân, tôi thấy chú Trương đang vác thím trên vai để đưa vào nhà.

"Thiên Tục, đợi chú một lát, để chú đưa thím vào trong phòng đã."

"Vâng chú Trương."

Tôi vừa đáp lời thì kinh hãi nhận ra thím Trương – lúc này đang bị vác chúc đầu xuống đất – bỗng nhiên ngẩng đầu lên, nở một nụ cười đầy quỷ quyệt với tôi. Ánh mắt thím vô cùng tỉnh táo, hoàn toàn không có vẻ gì là người đang phát điên cả. Nhưng ngay giây tiếp theo, khi thím bị vác vào trong phòng, từ bên trong lại vọng ra tiếng gào thét điên dại của thím. Chẳng lẽ vừa rồi là do tôi nhìn lầm?

Tuyết ở phương Bắc dày đặc, có khi cả mùa đông cũng không tan hết. Những ngày tuyết rơi, đoạn ngã tư cũ rất khó đi, đường ray trở nên cực kỳ trơn trượt. Hôm đó đi ngang qua đây, tôi lại thấy ông lão mặc áo xanh. Ông ấy dường như đánh rơi thứ gì đó, đang cúi đầu tìm kiếm giữa các thanh tà vẹt đường ray.

Tôi định nhắc ông ấy ngồi ở đó rất nguy hiểm. Ai sống ở đây cũng biết tàu hỏa chạy rất nhanh, đôi khi nghe thấy tiếng còi rồi ngẩng đầu lên thì tàu đã sát ngay trước mặt. Nhưng tôi chưa kịp gọi thì chân đã vấp phải thứ gì đó, ngã nhào một cái đau điếng. Vừa định lồm cồm bò dậy thì một bàn tay đột nhiên đưa ra trước mặt tôi.

Ngẩng đầu lên, chính là ông lão mặc áo xanh ấy. Tôi nắm tay ông đứng dậy, lòng đầy thắc mắc. Rõ ràng lúc nãy ông ấy đứng ở khá xa, sao có thể di chuyển nhanh đến thế được? Như để chứng minh cho nghi ngờ của tôi, sau khi kéo tôi dậy, ông ấy không nói lời nào mà quay lưng đi thẳng. Nhưng dáng đi của ông vẫn tập tễnh, chậm chạp vô cùng.

"Ông ơi..." Tôi không nhịn được mà gọi với theo: "Cháu cảm ơn ông ạ."

Ông ấy dừng bước, vẫn là động tác quay người cực kỳ chậm chạp để nhìn tôi. Chẳng biết có phải vì trời quá lạnh hay không mà ngay cả động tác nhếch miệng cười của ông trông cũng cứng nhắc và chậm chạp đến kỳ lạ. Sau đó, tôi nghe thấy giọng nói u uất của ông vọng lại:

"Trời tuyết đường trơn, phải đi chậm thôi cháu ạ. Ngày đó ông cũng bị va trúng như thế này mà đi đấy..."

Tôi ba chân bốn cẳng chạy thẳng về nhà, giữa tiết trời âm ba mươi độ mà mồ hôi vã ra như tắm. Đúng rồi, tôi nhớ ra rồi! Áo xanh, quần đen, dưới môi dưới bên trái có một vết bớt màu nâu. Những đặc điểm này y hệt như mô tả trong thông báo tìm người thân của ông lão gặp nạn hôm nọ. Tôi đã gặp một linh hồn rồi.

Vừa chạy đến cửa nhà, tôi đã gặp thím đang đẩy cửa bước ra.

"Thằng bé này, làm sao mà hớt hơ hớt hải thế kia?" Thím đưa tay lau mồ hôi trên trán tôi.

"Mẹ cháu đâu thím?"

Thím thở dài: "Mẹ cháu vừa bị chóng mặt dữ dội, mới nằm nghỉ rồi."

"Lại vì chuyện đó nữa ạ?" Tôi hỏi.

Thím gật đầu. Kể từ khi thím Trương phát điên, chẳng biết từ đâu lại rộ lên những lời đàm tiếu ác ý về nhà tôi. Suy cho cùng, việc thím Trương ngày nào cũng ngồi khóc ngoài tường nhà tôi là một chuyện cực kỳ quái lạ. Có người bảo nhà tôi đào giếng ngay trước cửa làm ảnh hưởng đến nhà thím Trương ở phía trước. Có người lại nói cây liễu nhà tôi không tốt, cây liễu thuộc tính âm, lại hút hết linh khí của đất đai nên âm khí chảy hết sang nhà thím Trương. Thậm chí có kẻ còn ác miệng nói cả cậu tôi cũng là do bị nhà tôi "ám" mà chết.

Những lời đồn đại không biết bắt nguồn từ đâu, nhưng cuối cùng đều lọt vào tai mẹ tôi. Mẹ tức đến mức định thuê người chặt bỏ cây liễu đó đi. Nhưng thím tôi thì khóc lóc thảm thiết:

"Cô Hà ơi, không được chặt cây này đâu. Đây là cây do anh tôi trồng, là kỷ vật duy nhất anh ấy để lại cho mẹ con tôi."

Mẹ tôi nghĩ lại cũng đúng, hơn nữa bà vốn không nỡ nhìn thím khóc nên đành thôi. Nhưng cứ cách vài ngày lại có những lời lẽ khó nghe hơn truyền đến tai khiến mẹ tôi uất ức không nguôi, sinh bệnh cũng là điều dễ hiểu.

Trước tình cảnh đó, tôi không dám kể chuyện gặp ông lão áo xanh để mẹ thêm lo lắng. Nhưng trong lòng cứ bồn chồn không yên, khi trò chuyện với thím, tôi giả vờ vô tình hỏi:

"Thím ơi, trong trường hợp nào thì người ta có thể nhìn thấy những người đã mất ạ?"

Đôi tay đang khâu vá của thím khựng lại: "Trẻ con hỏi chuyện đó làm gì."

Tôi vội lấp liếm: "Dạ không có gì, tại bạn cháu có ông nội mới mất, nó buồn lắm, cứ ước được gặp lại ông một lần thôi."

"À." Thím gật đầu: "Đúng là một đứa bé hiếu thảo." Một lát sau thím mới nói tiếp: "Nghe nói những người có 'xương tà' thì sẽ nhìn thấy được những linh hồn."

"Xương tà là xương gì ạ?"

"Thím cũng không rõ lắm." Thím dùng răng cắn đứt sợi chỉ: "Chắc là có một chiếc xương nào đó mọc không giống người bình thường chăng?"

Tôi nghe xong thì hơi thất vọng: "Hóa ra là xương mọc bên trong cơ thể ạ?"

Thím mỉm cười: "Chứ còn gì nữa? Chẳng lẽ lại giống cái mẩu xương nhỏ con đeo trên cổ kia sao?"

Tôi chỉ cười trừ. Chuyện nhặt được mẩu xương, mẹ đã dặn tôi tuyệt đối không được nói với bất kỳ ai. Trong lòng tôi thầm đoán mẩu xương này có lẽ cũng có "lai lịch" không tầm thường nên chẳng dám nói bậy.

Xương tà. Chẳng lẽ thứ tôi nhặt được chính là một mẩu xương tà?

Tôi chợt nhớ lại hồi nhỏ mẹ đã kiên quyết muốn vứt mẩu xương này đi. Chẳng lẽ mẹ biết điều gì đó? Nhưng làm sao mẹ biết được? Tôi cố gắng nhớ lại xem trước khi mẹ đòi vứt mẩu xương đi đã xảy ra chuyện gì. Và rồi, tôi nhớ đến người đàn ông đó. Người đàn ông lạ mặt xuất hiện trong sân nhà thím, nhưng lại biết tên tôi.

Kết nối với chuyện ông lão áo xanh, một suy đoán khiến tôi lạnh cả người.

Đêm đó, tôi gặp một cơn ác mộng. Trong mơ, tôi biến thành một đứa trẻ sơ sinh bị trói chặt. Kinh khủng hơn là có người đang cầm một con dao nhỏ, không chút do dự rạch một đường trên lồng ngực tôi. Một cảm giác lạnh buốt thấu xương lan tỏa, nỗi đau đớn tột cùng khiến tôi muốn gào thét nhưng không thành tiếng. Hắn cười một cách tham lam khi lấy đi thứ gì đó từ bên trong cơ thể tôi, như thể vừa tìm thấy một báu vật vô giá. Nhưng tôi không tài nào nhìn rõ khuôn mặt của hắn.

Tôi giật mình tỉnh dậy trong sợ hãi, mồ hôi vã ra, hơi thở dồn dập. Mất một lúc lâu tôi mới trấn tĩnh lại được, và lúc này tôi nhận ra đèn trong phòng mình đang bật sáng. Quay sang bên cạnh, tôi thấy thím đang ngồi ở mép giường, quay lưng về phía tôi và khóc.

Tim tôi đập thình thịch một cái. Nhìn lên đồng hồ báo thức, đã là hơn hai giờ sáng. Tại sao lúc này thím lại ở trong nhà tôi, còn ngồi khóc nữa? Chẳng lẽ mẹ tôi có chuyện gì sao?

"Thím ơi!" Tôi bật dậy ngồi thẳng người: "Sao thím lại ở đây? Có chuyện gì xảy ra ạ?"

Thím quay mặt lại nhìn tôi, tiếng khóc càng dữ dội hơn: "Thím giận quá Thiên Tục ơi, họ dám nói rằng những cành liễu nhà mình về đêm đung đưa trông như mấy cái cờ gọi hồn vậy..."

"Hả?" Tôi ngẩn người ra: "Vậy là không có chuyện gì khác sao thím?"

Thím không trả lời câu hỏi của tôi, chỉ tự lẩm bẩm: "Tức quá mà, nói thế mà nghe được sao? Làm cho cô Hà nhà mình tức đến phát bệnh rồi."

Giọng điệu của thím rất kỳ lạ, không giống thím lúc bình thường, ánh mắt cũng có chút đờ đẫn.

"Mẹ ơi! Mẹ ơi!" Tôi cao giọng gọi. Không có tiếng đáp lại.

Tôi định bước xuống giường thì thím đột nhiên quay lại, bịt chặt lấy miệng tôi, ra hiệu im lặng rồi chậm rãi nói: "Đừng hét nữa Thiên Tục, để mẹ cháu nghỉ ngơi đi, thím sẽ chăm sóc cháu..."

"Thím sẽ chăm sóc cháu thật tốt..."

Nói đoạn, gương mặt thím bỗng trở nên dữ tợn, đôi bàn tay thắt chặt lấy cổ tôi. Cảm giác nghẹt thở ập đến, tôi vùng vẫy tay chân trong tuyệt vọng. Khi mở mắt ra lần nữa, xung quanh chỉ là một màn đêm tĩnh mịch. Tôi hớt hải tìm công tắc bật đèn, không có thím, cũng không có hình ảnh đứa trẻ bị lấy đi nội tạng kia.

Tim tôi vẫn đập loạn nhịp, tôi đưa tay nhéo mạnh vào đùi mình một cái. Cơn đau khiến tôi tỉnh táo lại ngay lập tức, và tôi chắc chắn rằng mình đã hoàn toàn tỉnh táo. Vừa rồi chỉ là một giấc mơ trong mơ mà thôi.

"Những cành liễu nhà mình về đêm đung đưa trông như mấy cái cờ gọi hồn vậy..." Câu nói của thím trong giấc mơ cứ văng vẳng bên tai tôi không dứt.

Tôi chạm tay vào mẩu xương nhỏ treo trước ngực, rồi ngước nhìn cây liễu ngoài cửa sổ. Hồn ma rốt cuộc được gọi đến bằng cách nào thì tôi không rõ, nhưng tôi chắc chắn rằng, chúng đã đến rồi.

Nếu năm bảy tuổi người tôi thấy đúng là cậu tôi, thì có nghĩa là dù tôi có nhìn thấy linh hồn người chết, họ cũng không làm hại tôi. Ngược lại, sự thay đổi mà mẩu xương mang lại chỉ là giúp sức khỏe của tôi tốt lên. Nhưng tôi vẫn muốn làm sáng tỏ mọi chuyện. Và đầu manh mối duy nhất lúc này chính là ông lão áo xanh kia.

Thế là liên tục mấy ngày liền, hễ rảnh là tôi lại ra lảng vảng quanh đoạn ngã tư cũ. Nhưng điều đáng thất vọng là tôi không còn thấy bóng dáng ông lão áo xanh đâu nữa.

Hôm đó, tôi lại ra đường ray, từ xa đã thấy đầu một đoàn tàu đang lao tới. Vậy mà trên đoạn giao cắt vẫn có một người đàn ông đang chậm chạp bước đi. Người này không thấy tàu đang đến sao?

"Này! Này!" Tôi vừa hét vừa chạy thật nhanh về phía đó. Nhưng người đàn ông dường như không nghe thấy gì, thậm chí còn đứng khựng lại ngay giữa đường ray.

"Nguy rồi!" Tôi hét lớn, tăng tốc hết mức. Chẳng lẽ lại có người muốn tìm đến thảm kịch sao?

Dùng hết sức lực, tôi lôi mạnh người đó ra khỏi đường ray, ngay lúc đó đoàn tàu vùn vụt lướt qua che khuất tầm mắt. Tôi vừa thở dốc vừa nhìn rõ mặt người đối diện. Đó là chú Hoắc, người hàng xóm chuyên lái xe tải đường dài.

Chú Hoắc bị tôi kéo ngã nhào, sau khi định thần lại thấy là tôi thì tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng, dường như muốn nói điều gì đó. Nhưng tiếng tàu hỏa ầm ầm khiến tôi không thể nghe rõ. Tôi gào lên: "Chú làm gì thế chú Hoắc?"

Trông chú có vẻ vừa vội vã vừa phấn khích, cứ nắm tay tôi nói mãi. Dù không nghe rõ nội dung nhưng nhìn vẻ mặt của chú, tôi chắc chắn rằng chú không có ý định kết liễu đời mình. Đợi khi đoàn tàu đi qua hẳn, tôi vội hỏi:

"Chú Hoắc, chú làm gì thế? Tàu đến nơi rồi mà không biết à?"

Chú tỏ vẻ hối lỗi: "Chú đột nhiên bị lạc đường cháu ạ. Thiên Tục, cháu dẫn chú về nhà được không?"

"Lạc đường á?" Tôi không thể tin nổi. Ở đây chỉ có duy nhất một con đường, lạc đi đâu được cơ chứ? Mà có lạc thì sao lại lạc ngay vào giữa đường ray xe lửa thế kia?

Nhưng thấy chú có vẻ nôn nóng muốn về nhà, tôi cũng không tranh cãi gì thêm, cứ thế dẫn chú chậm rãi đi về. Trên đường đi, tôi còn trò chuyện với chú vài câu. Mãi đến khi về tới cửa nhà, chú mới nhận ra đường, rối rít cảm ơn và mời tôi vào chơi. Tôi khéo léo từ chối, lòng thầm nghĩ chú Hoắc hôm nay lạ quá.

Cứ cho là lạc đường nên nôn nóng về nhà đi, nhưng một người vừa suýt bị tàu va trúng mà sao tâm trạng lại bình thản đến thế? Thậm chí lúc tôi vừa kéo chú ra khỏi đường ray, ánh mắt chú nhìn tôi chỉ toàn là niềm vui, không hề có một chút bàng hoàng hay sợ hãi nào của người vừa từ cõi chết trở về.

Lúc đi ngang qua sân nhà chú Trương để về nhà, tôi thấy trong sân đang nhốn nháo hết cả lên. Chú Trương thì đuổi theo thím Trương, còn thím Trương thì lại đang đuổi theo con trai mình là bé Lê Đán. Đứa bé sợ quá chạy khắp sân khiến gà vịt bay tán loạn.

Khi chú Trương cuối cùng cũng bắt được thím và định đè xuống thì mới nhận ra sức lực của thím hôm nay lớn một cách bất thường. Chú gần như không thể khống chế nổi. Thấy tôi đứng đó, chú Trương như vớ được cứu tinh:

"Thiên Tục, mau lại giúp chú một tay!"

Tôi "dạ" một tiếng rồi lao tới định nắm lấy tay thím. Nhưng thím Trương đột ngột ngừng vùng vẫy, buông xuôi sức lực để chú Trương trói lại.

"Có chuyện gì thế hả chú?" Tôi hỏi.

Chú Trương thở dài: "Thím cháu phát điên nặng rồi, giờ chẳng còn nhận ra ai nữa. Vừa rồi còn đuổi theo Lê Đán bảo muốn ăn thịt nó cơ đấy."

Bé Lê Đán đứng nấp sau lưng tôi, nắm chặt lấy tay tôi run rẩy. Tôi quay đầu nhìn lại, thấy mặt mũi thằng bé lấm lem bùn đất như một củ khoai tây nhỏ, trông rất tội nghiệp.

Đột nhiên, thím Trương cất tiếng cười khanh khách. "Phương Thiên Tục." Thím nghiêng đầu nhìn tôi: "Phương Thiên Tục, cháu đến rồi à."

Chú Trương mừng rỡ khôn xiết, định đưa tay lên xoa mặt thím: "Anh Nhi, em tỉnh rồi sao Anh Nhi..."

Thím Trương đột ngột nghiêng đầu, cắn ngập sâu vào cánh tay chú Trương khiến chú hét lên đau đớn. Thấy thím có vẻ như muốn xé toạc một miếng da thịt trên tay chú, tôi vội vàng lao tới bóp mạnh vào hàm thím để thím nhả ra. Một vết răng rướm máu đỏ thẫm hiện rõ trên cánh tay chú Trương. Vậy mà thím Trương nhìn vết máu ấy với vẻ đầy khoái chí, thậm chí còn thè lưỡi liếm quanh môi một vòng.

Cảnh tượng đó khiến tôi nổi da gà. Sau khi giúp chú Trương xử lý vết thương, tôi dắt bé Lê Đán ra ngoài đi dạo một lát để thằng bé bớt sợ. Lau sạch mặt mũi cho "củ khoai tây nhỏ", mua cho nó mấy gói bánh, tôi mới tò mò hỏi khẽ:

"Lê Đán này, mẹ em vốn đang bị trói mà, sao hôm nay lại được cởi ra thế?"

Đứa trẻ vốn ngây thơ, nghe tôi nói mẹ nó chỉ đang chơi trò chơi với mình nên cũng bớt sợ hãi. Nó vừa ăn bánh vừa trả lời bằng giọng non nớt: "Mẹ nói chỉ cần em giúp mẹ cởi dây thừng ra thì mẹ sẽ dắt em đi mua mì tôm ạ."

Tôi nghe xong liền cảm thấy có điều chẳng lành: "Vậy là lúc mẹ nói chuyện với em là mẹ vẫn nhận ra em đúng không?"

Thằng bé gật đầu lia lịa. Quả nhiên là vậy. Nhớ lại ánh mắt thím Trương nhìn tôi lúc nãy, tôi càng thêm tin chắc rằng thím đang giả điên.

Đêm đó, tôi lại có một giấc mơ kỳ lạ. Trong mơ, tôi thấy một cục bông trắng muốt, mềm mại, trông vừa giống một chú chó nhỏ, lại vừa giống một chú thỏ đế. Tôi chẳng thể xác định rõ đó là sinh vật gì, chỉ biết rằng nó vô cùng đáng yêu. Cục bông ấy dường như đang bị đóng băng giữa cánh đồng tuyết trắng xóa, run rẩy vì cái lạnh thấu xương. Tôi vội vàng ôm chặt nó vào lòng, sưởi ấm cho nó và cứ thế chạy mãi, chạy mãi trên cánh đồng tuyết mênh mông không một bóng người.

Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, tôi lại mơ màng nghe thấy tiếng khóc nức nở của mợ từ phía nhà bên. Tôi giật bắn mình, vội vàng lăn từ trên giường xuống. Để chắc chắn mình đã hoàn toàn tỉnh táo, tôi không ngần ngại nhéo mạnh vào đùi rồi tự tát mình một cái đau điếng. Sau khi xác định đây không phải là một giấc mơ lồng trong mơ khác, tôi nhận ra tiếng khóc của mợ là thực.

Tôi vội vàng mặc quần áo rồi chạy ra khỏi phòng. Hóa ra không chỉ có mợ, mà cả chị hai, chị ba và anh tư cũng đang sụt sùi lau nước mắt. Gặng hỏi mãi tôi mới biết, chị cả của tôi – người đang mang thai tháng cuối – đã chuyển dạ vào đêm qua. Nhưng không may, ca sinh nở gặp biến cố lớn, đứa trẻ đã không thể chào đời. Chị cả cũng vì băng huyết dữ dội mà suýt chút nữa đã rời bỏ thế gian này.

Mợ tôi vốn tính tình yếu đuối, hễ có chuyện gì là lại chỉ biết khóc lóc. Cậu tôi mất sớm, mợ một mình tần tảo nuôi bốn đứa con khôn lớn. Tuy mợ chăm lo cho các con rất tốt, nhưng khi gặp phải những biến cố lớn lao như thế này, mợ hoàn toàn suy sụp. Suốt từ nhỏ đến lớn, mọi việc của bốn anh chị em nhà mợ, từ cái ăn cái mặc đến việc đi học, đi làm, đều một tay mẹ tôi lo liệu chu toàn.

Giờ đây, khi các anh chị đều đã trưởng thành, mẹ tôi tưởng chừng đã có thể thảnh thơi đôi chút. Nào ngờ chuyện của chị cả lại xảy đến như một đòn giáng mạnh. Mẹ tôi vừa thở ngắn than dài, vừa xót xa cho số phận khổ cực của chị cả. Dù sức khỏe dạo này không tốt, bà vẫn gắng gượng chạy vây chạy vát lo liệu mọi thứ, chỉ sợ chị cả sau này sẽ để lại di chứng. Tôi rất thương mẹ, nhưng với tư cách là một đứa con trai, trong những chuyện sinh đẻ như thế này, tôi thực sự chẳng giúp gì được nhiều.

Điều may mắn duy nhất là kể từ khi bận rộn lo cho chị cả, sức khỏe của mẹ tôi bỗng nhiên hồi phục một cách thần kỳ. Thậm chí bà còn ăn ngon miệng hơn bình thường nửa bát cơm.

Bố tôi thường xuyên đi làm ăn xa, ở nhà thường chỉ có tôi và mẹ nương tựa vào nhau. Một hôm, khi hai mẹ con đang ăn cơm, mẹ đột nhiên dặn dò:

"Thiên Tục này, dạo này đang kỳ nghỉ đông, con hạn chế ra ngoài thôi nhé."

"Có chuyện gì thế mẹ?" Tôi tò mò hỏi.

Mẹ khẽ thở dài: "Nhà họ Hoắc ở phía trước đang có tang sự. Con..." Mẹ nhìn mẩu xương nhỏ tôi đang đeo trên cổ rồi nói tiếp: "Con hãy tránh đi một chút."

"Nhà họ Hoắc ạ? Ai trong nhà họ vừa mất thế mẹ?"

"Là con cả nhà họ Hoắc. Nghe nói vài ngày trước anh ta chạy xe máy ra ngoài rồi mất tích luôn, mãi không thấy về. Cách đây ba ngày, người nhà mới tìm thấy anh ta ở một cánh đồng hoang. Có lẽ do chạy xe quá nhanh, không may vướng phải dây điện ngang đường... Lúc tìm thấy, thảm kịch đã xảy ra, cơ thể anh ta chẳng còn nguyên vẹn nữa."

Tôi nghe xong mà rụng rời tay chân, suýt chút nữa là bật khỏi ghế: "Anh cả nhà họ Hoắc? Có phải là anh Hoắc Hữu Cương không mẹ?"

Mẹ tôi giật mình vì phản ứng thái quá của tôi: "Đúng rồi, sao con lại hốt hoảng như vậy?"

"Dạ... không có gì ạ." Tôi cố gắng giữ bình tĩnh nhưng mồ hôi lạnh đã chảy ròng ròng khắp người.

Vài ngày trước, chẳng phải chính là cái ngày mà tôi đã dẫn anh ta về nhà sao? Hóa ra, người mà tôi gặp hôm đó vốn dĩ không phải là người sống, mà chỉ là một linh hồn còn vương vấn trần gian. Điều này cũng giải thích cho những biểu hiện kỳ lạ và ánh mắt đầy niềm vui của anh ta lúc đó.

Chẳng biết có phải vì đã từng gặp linh hồn của cậu và ông lão áo xanh trước đó hay không mà giờ đây, ngoài sự chấn động, tôi còn cảm thấy có chút may mắn. May mắn vì hôm đó anh ta đã gặp được tôi. Nếu anh ta gặp phải một thứ gì đó khác, hoặc không có ai dẫn lối về nhà, có lẽ anh ta đã phải chịu cảnh cô độc, không thể nhìn thấy người thân lần cuối trước khi tan biến. Nghĩ đến đây, tôi chợt thấy rằng việc "gọi hồn" đôi khi cũng không hẳn là một điều gì đó quá tồi tệ.

Vì không tiện vào bệnh viện thăm, nên mãi đến khi chị cả xuất viện về nhà ngoại tĩnh dưỡng, tôi mới sang nhà mợ để thăm chị. Vừa đi đến dưới cửa sổ, tôi đã nghe thấy tiếng chị hai gào thét trong phòng. Đẩy cửa bước vào, tôi thấy cả nhà ai nấy đều mặt mày hầm hầm tức giận.

Hỏi ra mới biết, nguyên do là vì hôm nay chị hai sang nhà chú Trương mượn ống bơm xe, tình cờ nghe thấy thím Trương đang oang oang trong phòng: "Cái loại không sinh được con... đúng là đồ bỏ đi!"

"Cái mụ điên đó rõ ràng là đang nhắm vào con mà nói!" Chị cả vốn dĩ đã tiều tụy, nay lại càng thêm uất ức. Chị khóc đến đỏ cả mắt, giọng nói nghẹn ngào không thốt nên lời. Nhìn chị như vậy, tôi thực sự cảm thấy vô cùng xót xa.

Cơn giận trong tôi bốc lên ngùn ngụt. Thực ra việc thím Trương có giả điên hay không, và tại sao thím lại làm thế, vốn chẳng liên quan gì đến tôi. Nhưng nếu thím dám đụng đến người nhà tôi, tôi tuyệt đối sẽ không để yên. Nghĩ vậy, tôi quay người định đi tìm thím để tính sổ.

Vừa bước ra khỏi gian phòng phía Đông, tôi bỗng thấy một cái bóng đen nhỏ xíu lách vào gian phòng phía Tây. Kỳ lạ thật, gian phòng phía Tây nhà mợ vốn dĩ lúc nào cũng khóa kín, sao hôm nay lại mở cửa? Nhìn cái bóng đen lúc nãy, trông nó giống như một con chuột, nhưng lại là một con chuột có kích thước khá lớn.

Tôi rón rén đẩy cửa bước vào gian phòng đó, rồi nhẹ nhàng đóng cửa lại để ngăn con chuột tẩu thoát. Tôi nhìn quanh quất, lùng sục khắp nơi nhưng chẳng thấy một sợi lông chuột nào cả. Lúc này, tôi để ý thấy một ngăn kéo tủ chưa được đóng chặt.

Theo lẽ thường, ngăn kéo đó nằm ở vị trí khá cao và khe hở lại rất nhỏ, chuột khó lòng mà chui vào được. Nhưng tôi vẫn quyết định kiểm tra cho chắc chắn. Ngay khoảnh khắc tôi kéo ngăn kéo ra, chẳng biết là tình cờ hay sao mà mắt tôi bỗng tối sầm lại. Cả người tôi rơi vào trạng thái hụt hẫng, chếnh choáng – một cảm giác khó chịu mà đã lâu rồi tôi không gặp phải.

Khi định thần lại được, tôi thấy trong ngăn kéo sạch trơn, chỉ có hai chiếc phong bì cũ kỹ. Như có một thế lực nào đó thôi thúc, tôi cầm một chiếc phong bì lên và mở ra. Bên trong là một bức ảnh đen trắng đã cũ. Trong ảnh có một người, nhưng phần nửa thân trên của người đó đã bị một miếng vải đen dán kín lại. Phía sau bức ảnh có viết một dãy số.

Tôi lướt mắt qua dãy số đó, chưa kịp nhìn kỹ thì cánh cửa phía sau bỗng vang lên một tiếng "rầm" chói tai. Tiếng động lớn khiến tôi giật bắn mình, bức ảnh trên tay cũng rơi xuống đất. Anh tư hùng hổ lao vào, vội vàng nhặt bức ảnh lên rồi hớt hơ hớt hải nhét lại vào phong bì.

"Sao mày lại vào được phòng này? Mày ăn cắp chìa khóa đúng không?" Anh tư gào lên với tôi, khiến tôi nhất thời ngẩn người.

"Em ăn cắp chìa khóa làm gì? Cửa phòng vốn dĩ đã mở rồi mà. Em thấy có con chuột chạy vào nên mới vào xem thử thôi."

Thấy anh tư cứ giấu chiếc phong bì ra sau lưng với vẻ lấm lét, tôi không nhịn được mà hỏi: "Người trong ảnh là ai thế anh? Sao lại dùng vải đen che mặt đi vậy?"

Ánh mắt anh tư dáo dác: "Đó là người yêu cũ của chị cả. Sau này hắn ta phản bội nên chị cả không muốn nhìn mặt hắn nữa, bèn dán kín lại."

"Nhưng mà..."

"Thôi thôi, Thiên Tục này..." Anh tư ngắt lời tôi: "Lúc nãy anh không cố ý mắng mày đâu, chủ yếu là vì đang bực bội chuyện mụ điên nhà phía trước thôi."

Anh vừa xin lỗi vừa đẩy tôi ra khỏi phòng. Sau khi rời khỏi nhà mợ, tôi càng nghĩ càng thấy có điều gì đó không ổn. Biểu cảm của anh tư rõ ràng là rất bất thường. Nếu là bức ảnh của người mà chị cả không muốn nhìn mặt, sao không vứt phắt đi cho rảnh nợ? Việc dùng vải đen che mặt lại trông cực kỳ ám muội. Hơn nữa, dãy số đó... Dãy số đó có ý nghĩa gì nhỉ? Một linh cảm không lành trỗi dậy trong lòng tôi.

Tôi lững thững đi vào sân nhà chú Trương với tâm trạng rối bời. Chú Trương đang ngồi xổm hút thuốc lào giữa sân. Thấy tôi vào, chú vội vã dụi thuốc rồi bước tới đón với vẻ mặt đầy hối lỗi.

"Thực sự xin lỗi cháu nhé Thiên Tục, thím cháu..." Chú thở dài: "Haiz, chú cũng chẳng biết tại sao bà ấy lại thốt ra những lời điên rồ đó nữa. Chị cả cháu chắc là giận lắm phải không?"

Tôi an ủi: "Chú Trương, chuyện này không trách chú được." Liếc nhìn vào trong phòng, tôi nói tiếp: "Chú Trương này, chẳng phải chú bảo thím không còn nhận ra ai sao? Nhưng dạo này thím lại chỉ nhớ mỗi tên cháu. Nếu chú thấy tiện, cháu muốn vào trong nói chuyện riêng với thím một lát, xem có hỏi ra được điều gì không."

Chú Trương nghe vậy thì thoáng ngẩn người, rồi gật đầu lia lịa: "Được chứ Thiên Tục, thế thì tốt quá. Chỉ là cháu nhớ cẩn thận một chút, đừng có lại gần bà ấy quá nhé."

"Cháu biết rồi ạ." Tôi đẩy cửa bước vào phòng.

Thím Trương vẫn đang bị trói chặt bởi những sợi dây thừng. Chú Trương đã đặt thím nằm ở đầu giường, trên người còn đắp một chiếc chăn nhỏ. Vừa thấy tôi vào, thím không còn la hét nữa, trái lại còn mỉm cười đầy ẩn ý nhìn tôi. Điều khiến tôi không ngờ tới là thím lại là người chủ động mở lời trước.

"Phương Thiên Tục, cháu đến rồi à? Ta đã chờ cháu lâu lắm rồi..."

Vì đã sớm đoán được thím đang giả điên nên khi nghe câu này, tôi cũng không quá ngạc nhiên. "Rốt cuộc là thím muốn làm gì?" Tôi đi thẳng vào vấn đề: "Tại sao thím lại sỉ nhục chị cả cháu?"

Thím nhướng mày, trả lời bằng một câu hỏi chẳng liên quan: "Mẩu xương nhỏ đeo trên cổ vẫn tốt chứ?"

Hơi thở của tôi chợt khựng lại. Thím ta vậy mà cũng biết về mẩu xương. Nói cách khác, rốt cuộc cũng đã có người biết về sự tồn tại của nó? Tại sao tôi lại nhặt được mẩu xương này? Nó đối với tôi là điềm lành hay điềm gở? Liệu những chuyện quái dị xảy ra liên tiếp vừa qua có liên quan gì đến mẩu xương này không? Và cả chuyện đứa trẻ của chị cả qua đời nữa...

Trong phút chốc, tâm trí tôi rối loạn như tơ vò, chẳng biết nên bắt đầu hỏi từ đâu. Cuối cùng tôi chỉ thốt ra được một câu: "Thím rốt cuộc là ai? Tại sao lại muốn hại tôi?"

Thím cười nhạt: "Thằng nhóc này, ta hại cháu bao giờ? Ta đến đây là để giúp cháu cơ mà. Sư phụ ta nói mạng của cháu đã bị người ta tráo đổi, giờ đã đến lúc rồi, nên sai ta đến trợ giúp cháu một tay."

"Tráo đổi mạng sống?" Tôi cười lạnh một tiếng, chợt nhớ lại lời bà đồng năm xưa: Bát tự rất cứng, nhưng có sự quấy nhiễu từ bên ngoài. "Chẳng lẽ thứ làm đảo lộn mạng sống của tôi không phải là mẩu xương này sao? Nó chính là sự quấy nhiễu đó còn gì?"

Thím bĩu môi: "Đúng là đồ ngốc, món bảo vật quý giá như thế làm sao có thể là thứ quấy nhiễu được? Thứ quấy nhiễu thực sự chính là cái phong bì cháu vừa nhìn thấy lúc nãy đấy."

Sau đó, thím đã kể cho tôi nghe một câu chuyện vô cùng hoang đường.

Ngày xửa ngày xưa, có một vị công tử nọ tình cờ cứu được một sinh vật nhỏ bị thương giữa cánh đồng tuyết mênh mông. Sinh vật ấy không chỉ bị thương nặng mà còn sắp chết vì lạnh và đói. Vị công tử đã tận tình chữa trị vết thương, thậm chí còn trích máu của chính mình cho nó uống để duy trì sự sống.

Ngay khi cả hai sắp thoát ra khỏi vùng tuyết trắng thì bất ngờ chạm trán với một con sói tuyết hung dữ. Vị công tử đã liều mạng tung sinh vật nhỏ đi thật xa, còn mình thì chạy theo hướng ngược lại để dẫn dụ con sói đi chỗ khác. Kết quả thì ai cũng có thể đoán ra được. Vị công tử đã hy sinh mạng sống để sinh vật nhỏ có thể bình an trở về nhà.

Rất nhiều năm sau đó, sinh vật nhỏ ấy cũng đến lúc phải lìa xa cõi đời. Trước khi mất, nó đã thỉnh cầu cụ tổ (Tam Thái Gia) vô cùng cao tay của mình, nhờ cụ trông nom và bảo vệ vị công tử tốt bụng kia trong những kiếp sau. Cụ tổ vốn đã tu luyện ngàn năm, đạo hạnh thâm sâu nên việc nhỏ nhặt này tất nhiên không phải là vấn đề.

Một ngày nọ, cụ tổ phát hiện vị công tử kia đã đầu thai chuyển kiếp. Thấy người này có mạng cách rất tốt, bát tự lại vô cùng cứng cỏi nên cụ yên tâm đi trừ yêu diệt quái vài năm. Thế nhưng khi quay lại nhìn lại vị công tử ấy, cụ kinh hãi nhận ra trên đầu người đó đang bị mây đen bao phủ, cái chết đã cận kề. Cụ tổ thấy lạ bèn đi sâu vào điều tra thì mới phát hiện ra rằng, đã có kẻ ác tâm bí mật tráo đổi mạng sống của người này.

Và đó chính là khởi đầu của một câu chuyện khác.

Ngày xưa có một người phụ nữ nọ mất chồng từ sớm. Một mình bà ta nuôi nấng bốn đứa con vô cùng vất vả, cũng may nhờ có người em chồng vừa lương thiện vừa tháo vát luôn bên cạnh giúp đỡ. Người em chồng này việc gì cũng nghĩ cho bà ta, hết lòng lo toan mọi thứ cho gia đình bà ta.

Thế nhưng, có một ngày người em chồng ấy sắp sinh con. Người phụ nữ kia bắt đầu suy tính: "Đợi nó có con rồi, liệu nó còn tâm trí và thời gian đâu mà chăm lo cho mấy đứa con của mình nữa?" Thế là, một ý đồ đen tối bắt đầu nảy nở trong lòng bà ta.

Sau khi người em chồng sinh con, bề ngoài người phụ nữ kia vẫn tỏ ra quan tâm chăm sóc hết mực, nhưng thực chất bà ta đã bí mật ghi lại ngày giờ sinh của đứa trẻ sơ sinh đó. Sau đó, bà ta bắt đầu thực hiện theo những phương pháp tà môn ngoại đạo mà bà ta kiếm được ở đâu đó. Bà ta rất thành tâm, ngày nào cũng lẩm bẩm cầu nguyện trong lòng. Bà ta mong muốn có thể chuyển hết tất cả những điều tốt đẹp từ đứa trẻ đó sang cho con cái của mình. Tất cả những gì tốt đẹp nhất, bao gồm cả tuổi thọ.

"Vậy nên đoạn kết của câu chuyện, chắc hẳn cháu cũng đoán ra được rồi chứ?" Thím Trương nhìn tôi với nụ cười nửa miệng đầy bí hiểm.

"Cháu nhặt được mẩu xương mà sư phụ ta để lại, nên sức khỏe mới dần dần hồi phục. Mẩu xương đó không thể chữa bệnh, nhưng có thể giúp cháu giữ được sinh khí. Còn về việc cháu nhìn thấy những thứ lạ lùng khi đeo mẩu xương, đó là vì bản thân mẩu xương này là một vật linh thiêng, nó có thể chiêu dẫn cái ác nhưng cũng có thể trấn áp tà ma, quan trọng là do tâm ý của người sở hữu nó mà thôi."

Nghe xong những lời này, cả người tôi như bị đóng băng, chỉ có đôi bàn tay nắm chặt là không ngừng run rẩy. Phải mất một lúc lâu, tôi mới nghe thấy giọng nói của mình vang lên qua kẽ răng: "Tại sao tôi phải tin thím?"

Thím Trương cười: "Cháu không tin sao?"

"Tôi..." Tôi không nói nên lời, nhưng bức tường phòng thủ trong lòng đang dần sụp đổ. Suy nghĩ kỹ lại, thực ra mọi chuyện vốn dĩ đã có dấu vết từ lâu, chỉ là không ai nghĩ theo hướng tồi tệ như vậy.

Những lời đàm tiếu ác ý của hàng xóm láng giềng cứ cách vài ngày lại lọt vào tai mẹ tôi, thực chất đều là do mợ tôi kể lại. Bây giờ nghĩ lại, liệu có thực sự có người ngoài kia nói những lời quá đáng như thế không? Nào là cây liễu không tốt, cây liễu ám khí, gọi hồn người chết... Nhưng khi mẹ tôi muốn chặt cây thì mợ lại khóc lóc ngăn cản, chẳng phải là cố ý khiến lòng người thêm bất an sao?

Lại còn chuyện chị cả sinh con, lúc đó mẹ tôi đang bệnh rất nặng. Mợ tôi đã từng sinh bốn đứa con, chẳng lẽ kinh nghiệm lại không nhiều hơn mẹ tôi sao? Vậy mà chuyện gì cũng phải đợi mẹ tôi đứng ra lo liệu. Đến khi xong xuôi, cả nhà họ lại cùng nhau tung hô, tỏ vẻ biết ơn mẹ tôi hết mực, khiến mẹ tôi lại cảm thấy áy náy. Bao nhiêu năm qua, mẹ tôi chẳng phải luôn bị xoay như chong chóng theo cách đó sao?

Nghĩ đến sức khỏe của mẹ, tôi bỗng liên tưởng đến một điều gì đó và không kìm được mà văng tục một câu. "Dãy số đó..."

Thím Trương gật đầu: "Cuối cùng thì cháu cũng nhớ ra rồi. Dãy số đó chẳng phải chính là ngày tháng năm sinh của mẹ cháu sao? Chỉ là do dán liền lại với nhau nên lúc đầu cháu chưa kịp phản ứng thôi. Người mợ độc ác của cháu không chỉ nguyền rủa cháu, mà còn nguyền rủa cả mẹ cháu nữa. Nhưng vì bà ta không có giờ sinh chính xác của mẹ cháu nên những trò ma thuật đó không gây ra sóng gió gì quá lớn."

Tôi tức đến mức muốn nghiến nát cả răng. Nhiều chuyện vốn dĩ không muốn chấp nhận, nhưng sự thật rành rành ngay trước mắt. Cơn giận bốc lên ngùn ngụt, tôi quay người định rời đi thì vừa vặn va phải chú Trương đang hớt hơ hớt hải chạy vào.

"Thiên Tục, cháu mau về xem đi, mẹ cháu với nhà mợ cháu đang cãi nhau to ngoài sân kìa!"

"Cái loại đàn bà độc ác, đúng là cái chổi xể!" "Cô ám chết anh trai mình, làm cho tôi phải chịu cảnh góa bụa sớm..." "Cô làm khổ mẹ con tôi bao nhiêu năm nay..."

Khi tôi chạy về đến nơi, mợ tôi đang rũ rượi ngồi bệt ngay trước cổng nhà tôi, nước mắt nước mũi giàn giụa. Vây quanh bà ta là các anh chị họ. Trừ chị cả còn đang ở cữ, ba người còn lại đều có mặt và hùa theo mẹ mình để nhục mạ mẹ tôi. Thậm chí bọn họ còn lôi cả tổ tiên nhà mẹ tôi ra để rủa xả. Thật nực cười thay, mẹ tôi và bọn họ vốn dĩ là cùng một tổ tiên.

Hàng xóm láng giềng kéo đến xem đông nghẹt, ai nấy đều ngơ ngác không hiểu chuyện gì đang xảy ra. "Có chuyện gì thế nhỉ? Sao người trong nhà lại cãi nhau ầm ĩ thế kia?" "Đúng đấy, bà Hà bao nhiêu năm qua vất vả nuôi mấy đứa nhỏ nhà đó khôn lớn, có bao giờ nghe thấy mâu thuẫn gì đâu." "Nghe bảo là do đứa con của chị cả không giữ được." "Con mình mất thì liên quan gì đến bà cô mà lại đi mắng người ta?" "Họ bảo là do bà cô dùng tà thuật gì đó nên mới hại chết đứa bé." "Các bác xem, thằng Thiên Tục từ nhỏ đã yếu ớt như thế, tự dưng lại khỏe mạnh hẳn lên, biết đâu là..."

Tôi đã hiểu rõ sự tình. Đây chính là chiêu trò "vừa ăn cướp vừa la làng". Ban đầu tôi vẫn chưa hoàn toàn tin lời thím Trương, vì chuyện này quá đỗi hoang đường. Nhưng nhìn tình cảnh hiện tại, mọi chuyện đã quá rõ ràng. Họ biết rằng dãy số trên phong bì kia sớm muộn gì tôi cũng sẽ nhận ra, và một khi tôi hiểu ra mọi chuyện, tôi chắc chắn sẽ sang tính sổ với bọn họ. Thế nên bọn họ quyết định ra tay trước để bôi nhọ thanh danh mẹ tôi. Dù sao chuyện sức khỏe của tôi đột nhiên tốt lên cũng là một điều kỳ lạ, mẹ tôi có giải thích thế nào đi nữa thì người ngoài cũng khó mà tin được. Hơn nữa, trước đây mẹ tôi còn đi khắp nơi tìm đại sư, điều này càng khiến lời buộc tội của họ thêm phần thuyết phục.

Tôi lách qua đám đông để vào trong. Thấy tôi về, mọi người không bàn tán nữa. Mẹ tôi chắc là đã bị ai đó kéo vào trong nhà rồi. Trong tình cảnh này, mẹ tôi có mắng lại cũng không xong, mà đánh cũng không được, chỉ thêm rước bực vào người. Nhìn những khuôn mặt xấu xí kia, tôi bỗng cảm thấy nực cười. Lòng dạ con người sao có thể độc ác đến nhường này?

"Thằng ranh con, mày nhìn cái gì mà nhìn?" Anh tư là người đầu tiên tấn công tôi bằng lời nói.

Tôi không nói lời nào, tiện tay cầm lấy cái xẻng dựng bên chân tường, nhắm chuẩn vào chân hắn ta mà nện một nhát thật mạnh. Không một ai kịp phản ứng để ngăn cản. Hắn ta "rầm" một cái quỳ thụp xuống đất, mặt mũi biến dạng vì đau đớn. Mất một lúc lâu hắn mới lồm cồm bò dậy được, vừa chửi bới vừa định lao vào đánh trả tôi, nhưng đã bị hàng xóm ngăn lại.

Chị hai chống nạnh quát tháo: "Mọi người thấy chưa? Thằng Thiên Tục đúng là cái đồ súc vật, cái loại lưu manh! Bé tí tuổi đầu đã dám cầm xẻng hành hung người khác, đến cả anh chị mình mà nó cũng không tha!"

Chị ba bồi thêm: "Nhìn cách nó hành xử là biết bà mẹ dạy dỗ thế nào rồi, nên nó mới không coi chúng tôi ra gì. Bà Hà kia, cái đồ đàn bà thất đức, bà ám chết bố tôi, bố tôi có thành ma cũng sẽ không tha cho bà đâu! Bà cứ đợi đêm đến ma về gõ cửa đi!"

Lời chị ba vừa dứt, cửa nhà tôi bỗng "ầm" một tiếng bị đạp tung ra. Mẹ tôi từ trong nhà bước ra, gằn giọng nói: "Từ giờ phút này trở đi, cửa nhà tôi sẽ luôn mở rộng! Tôi sẽ đợi anh trai tôi về để xem anh ấy dạy bảo những đứa con nghịch tử như các người thế nào!"

Đối với những hành động bất thường của nhà mợ, mẹ tôi thực sự không thể hiểu nổi. Bà tức đến mức như người mất hồn, cứ nhất quyết đòi mở cửa để đợi cậu tôi về. Bà vừa lau nước mắt vừa lầm bầm nói chuyện với linh hồn của cậu:

"Anh ơi, nếu anh linh thiêng thì chắc hẳn anh đã nhìn thấy hết rồi. Em đối với vợ con anh không có nửa điểm không phải. Từ nhỏ Thiên Tục có cái gì thì các cháu cũng có cái đó, Thiên Tục ăn một miếng thì các cháu cũng chưa từng phải nhịn miếng nào."

Mẹ tôi làm sao hiểu được, vì bà đã dốc hết gan ruột ra đối đãi nhưng lại không ngờ đối phương ngay từ đầu đã mang tâm địa ác độc. Thế là, tôi kể cho bà nghe về bức ảnh đó. Có lẽ bà cũng đã lờ mờ nhận ra rằng bao năm qua mình đã nuôi ong tay áo, nhưng tôi chỉ nói về bức ảnh của mẹ mà không nhắc gì đến chuyện của chính mình. Nếu không, tôi sợ mẹ sẽ liều mạng với bọn họ mất. Mạng của bọn họ không đáng để mẹ tôi phải hy sinh như vậy.

Sau khi biết rõ nguyên do, mẹ tôi đã bình tĩnh trở lại. Bà vốn là người yêu ghét phân minh. Vì tình nghĩa với người anh quá cố, những chuyện trước đây bà giúp đỡ thì đã giúp rồi, không có gì phải hối hận. Nhưng kể từ nay về sau, đôi bên sẽ như người dưng nước lã, không còn quan hệ gì nữa. Cả nhà họ hãy cuốn gói đi cho khuất mắt bà.

Chiều tối, khi trời đã sẩm tối, mẹ tôi khóc mệt quá nên đã ngủ thiếp đi trên ghế sofa. Đắp cho mẹ một chiếc chăn mỏng xong, tôi đi thẳng sang nhà mợ. Cái gia đình này đã khiến mẹ tôi phải chịu đựng bao nhiêu uất ức. Mẹ có thể bỏ qua, nhưng tôi thì không bao dung đến thế.

Bước vào sân, tôi thấy có hai người đàn ông lạ mặt đang đứng đó. Trông họ khá quen mắt, chắc là bạn của anh rể cả. Xem ra sau vụ xô xát ban ngày, họ đã đề phòng tôi. Nhưng dù sao tôi cũng chỉ là một đứa trẻ mười lăm tuổi, đối với họ chẳng có gì đáng sợ nên chỉ cần thuê hai người này là đủ. Thấy tôi thực sự đến, cả nhà mợ từ trong phòng ùa ra, ngay cả chị cả đang ở cữ cũng lò dò đi ra.

Tôi mỉm cười: "Bức ảnh đã giấu kỹ chưa?"

Chị cả là người bình tĩnh nhất: "Ảnh gì chứ? Chúng tôi không hiểu cậu đang nói gì. Cậu hại chết con tôi rồi giờ lại còn định vu khống sao?"

Chị hai và chị ba hùa theo: "Cái loại ác độc, hèn gì sinh ra đã dặt dẹo suýt chết. Đúng là báo ứng!"

Anh tư thì khỏi phải nói, chính hắn ta là người đã giật bức ảnh từ tay tôi. Nhìn những khuôn mặt vừa quen thuộc lại vừa xa lạ này, tia hy vọng cuối cùng trong tôi hoàn toàn dập tắt. Tôi vốn tưởng rằng mọi chuyện có lẽ chỉ do một mình mợ làm, rằng mợ đã tiêm nhiễm vào đầu các anh chị sự oán ghét đối với mẹ tôi. Nhưng giờ đây tôi thấy mình đã lầm. Bọn họ ai cũng có phần, trong lòng mỗi người đều đang nuôi dưỡng một con quỷ dữ.

Tôi gật đầu: "Xem ra là giấu kỹ rồi. Nhưng không sao, bức ảnh đó các người có giấu hay không đối với tôi cũng chẳng còn quan trọng nữa."

"Cái gì?" Chị cả là người mưu mô nhất, phản ứng cũng nhanh nhất.

Tôi cười như không cười: "Đúng vậy, đúng như những gì chị đang nghĩ đấy. Chẳng lẽ chị thực sự tin rằng tôi vừa mới biết về bức ảnh đó sao?"

Anh tư khinh khỉnh: "Mày bớt hù dọa đi, mày thậm chí còn chưa kịp nhìn thấy bức ảnh đó mà. Tao đã kiểm tra rồi, miếng vải đen dán rất chặt, mày không thể nào biết bên dưới có cái gì đâu."

"Ồ? Vậy sao? Thế mà lúc nãy anh tư lại bảo người trong ảnh là người yêu cũ của chị cả?"

"Tao..." Hắn nhận ra mình vừa lỡ lời, bèn im bặt một cách thận trọng.

Tôi trầm giọng nói: "Nếu tôi không biết bên trong có gì, tại sao con của chị cả lại đột nhiên mất? Tại sao chị hai mấy năm trước vấp ngã một cái mà giờ lại thành thọt? Tại sao chị ba thi đại học ba năm liền đều trượt vỏ chuối? Tại sao anh tư còn nhỏ tuổi mà lại mặt dày theo đuổi một người phụ nữ lớn tuổi để rồi bị chồng người ta đánh cho thừa sống thiếu chết? Và cả mợ nữa..."

Ánh mắt tôi trở nên lạnh lẽo: "Mợ không thực sự nghĩ rằng chỉ dựa vào một cái bát tự mà có thể lấy đi hết nội tạng của tôi để nuôi dưỡng con cái của mợ đấy chứ?"

Sắc mặt ai nấy đều tái mét. Mợ tôi sợ đến mức ngũ quan biến dạng, miệng không ngừng lẩm bẩm: "Yêu quái, mày là yêu quái ăn thịt người... Hóa ra mày đã biết từ lâu... Hóa ra mày đã biết tất cả..."

Làm sao tôi biết từ lâu được chứ? Thực ra tôi đang tung hỏa mù để thăm dò bọn họ thôi. Đến tận giờ phút này, tôi vẫn mong rằng mình không nên tin hoàn toàn lời thím Trương. Hay nói cách khác, tôi vẫn hy vọng tất cả những chuyện này đều là giả. Tôi thầm cười nhạo chính mình, rồi khẽ thở dài.

Tôi ngẩng đầu nhìn thẳng vào bọn họ: "Bao nhiêu năm qua tôi vẫn không chết, chắc mợ thất vọng lắm phải không? Nhưng sẽ còn nhiều chuyện khiến mợ thất vọng hơn nữa đấy. Những năm qua, mỗi một lời nguyền rủa mà các người nhắm vào tôi và mẹ tôi đều sẽ bị phản ngược lại y nguyên lên chính các người hoặc con cái của các người. Và nó sẽ không chỉ dừng lại ở những chuyện vặt vãnh này đâu. Ngày tháng còn dài, các người hãy cứ chuẩn bị tinh thần để đón nhận những 'điều tốt đẹp' sắp tới đi."

Đám người mang tâm địa đen tối bắt đầu run rẩy sợ hãi. Anh tư cố gào lên để trấn tĩnh: "Mày đừng có ở đây mà giả thần giả quỷ! Mày là đứa em chúng tao nhìn từ nhỏ đến lớn, mày có bao nhiêu cân lạng chẳng lẽ chúng tao không biết?"

Tôi nhếch môi: "Anh có thể không tin. Nhưng hãy thử đoán xem, lần này là chị cả, vậy lần tới vận may đó có rơi trúng đầu anh không nhỉ?"

Anh tư vốn dĩ được các chị chiều chuộng nên tính tình rất nhu nhược và nhát chết. Lúc này hắn ta đã hoàn toàn suy sụp, "rầm" một cái quỳ xuống đất: "Thiên Tục, Thiên Tục tha cho anh đi Thiên Tục! Thực ra anh cũng không biết nhiều đâu, lúc đó mẹ với các chị bảo anh làm gì thì anh làm nấy thôi."

Cái loại hèn nhát, tôi chẳng buồn đếm xỉa đến hắn, gằn giọng nói: "Quỳ trước tôi cũng vô ích thôi. Tôi khuyên các người, sáng sớm ngày mai hãy mang hai bức ảnh đó đến cho tôi, rồi mỗi người hãy dập đầu ba cái thật kêu xin lỗi mẹ tôi. Nếu không, đêm đến ma sẽ gõ cửa nhà ai thì trong lòng các người tự hiểu rõ nhất."

Ngay lúc đó, như để phối hợp với lời nói của tôi, mợ tôi bỗng rú lên một tiếng thảm thiết khiến tôi cũng giật mình: "Ma... có ma kìa... á á á... ma..." Rồi bà ta điên cuồng chui tọt vào chuồng gà. Có lẽ vì làm nhiều chuyện thất đức quá nên tâm lý không chịu nổi sự hù dọa này. Những người còn lại cũng cuống cuồng hết cả lên, vừa lôi mợ ra khỏi chuồng gà vừa chạy thục mạng vào trong phòng như những con chuột nhắt.

Tôi lặng nhìn cánh cửa mà mình đã ra vào không biết bao nhiêu lần từ khi còn nhỏ, lòng cảm thấy thật nực cười. Tôi không thể làm gì bọn họ, nhưng tôi tin chắc rằng với tâm hồn bị quỷ dữ ngự trị, từ nay về sau bọn họ sẽ chẳng bao giờ có được một ngày bình yên.

Vừa quay người định đi, tôi bỗng nhận ra phía sau cách đó không xa có một bóng người đang đứng lặng lẽ. "Cậu?"

Lúc bảy tuổi gặp cậu, tôi không nhận ra ông. Nhưng lúc này, tôi có thể khẳng định chắc chắn đó chính là người cậu quá cố của mình. Tôi gãi đầu bước tới trước mặt ông, lòng hơi có chút áy náy: "Cái đó... xin lỗi cậu nhé, cháu hình như... vừa mới dọa mợ điên rồi."

Cậu tôi mặt mày vẫn chưa hết giận. Tôi cứ tưởng ông xót vợ, nào ngờ ông lại nói: "Không sao đâu Thiên Tục, người vừa mới dọa bà ta điên lúc nãy chính là ta."

Sáng sớm hôm sau, bốn "con sói con" đã quỳ rạp trước mặt mẹ tôi để dập đầu tạ tội. Mợ tôi chắc là đã thực sự phát điên, cứ trùm kín chăn trong nhà, nói thế nào cũng không chịu ra ngoài. Âu cũng là vì bà ta đã thực sự nhìn thấy người đã khuất.

Mấy bức ảnh họ mang sang đều bị tôi thu giữ hết. Tôi vẫn sợ mẹ nhìn thấy bức ảnh của chính mình. Mẹ tôi đuổi bọn họ đi, tuyên bố từ nay về sau đoạn tuyệt ân nghĩa.

Ba ngày liên tiếp, nghe nói chị cả, chị hai và chị ba thi nhau vấp ngã, mỗi người đều bị gãy mất một chiếc răng cửa. Chiều tối ngày thứ tư, tôi tò mò đứng ở cổng đợi. Quả nhiên, một lúc sau tôi thấy cậu tôi chắp tay sau lưng lững thững bước vào nhà họ. Nửa tiếng sau, tôi nghe thấy tiếng anh tư hét lên một tiếng đau đớn từ trong sân. Xem ra, một người cha tốt thì phải đối xử công bằng với tất cả các con của mình.

Sau này, gia đình tôi đã mua một ngôi nhà ở nơi khác và chuyển đi. Trước khi đi, tôi có đến tìm thím Trương. Tôi vẫn còn một vài điều chưa hiểu rõ.

"Chuyện đứa bé không thể chào đời, đó là sự trùng hợp phải không thím?" Tôi hỏi.

Thím mỉm cười: "Tất nhiên là không rồi. Làm chuyện xấu xa thì sớm muộn gì cũng phải trả giá thôi, chỉ là đôi khi báo ứng không đến ngay lập tức. Nhưng nhà họ gặp phải cháu thì lại khác. Cháu mang mẩu xương này, lòng cháu lại quá lương thiện nên chỉ trong vài ngày ngắn ngủi đã hóa giải được oán khí cho hai linh hồn tội nghiệp."

"Ông lão bị tai nạn kia là bị chính con trai mình đưa đến đó, có lẽ là vì tranh giành tài sản. Ông ấy nằm đó lạnh lẽo không người nhận, bị cành cây quẹt bẩn hết cả người, ai thấy cũng tránh như tránh tà, vậy mà cháu lại đến giúp ông ấy được sạch sẽ. Còn anh cả nhà họ Hoắc, gặp phải thảm kịch nơi đất khách quê người vốn dĩ không tìm được đường về. Chỉ nhờ đoạn ngã tư đó âm khí quá nặng mới gượng lại được, nhưng chính cháu đã dẫn anh ta về nhà. Cả hai người họ đều ra đi oan ức, nếu oán niệm quá sâu sẽ trở thành những linh hồn độc địa. Nhưng chính sự ấm áp cuối cùng của cháu đã cảm hóa họ. Thế nên, họ cũng dùng cách tương tự để giúp cháu trấn áp những điều ác nghiệt. Những lời nguyền của mợ cháu dù không hại được mọi người nhưng tâm địa bà ta vô cùng tàn độc. Vì thế khi bị phản phệ, hậu quả để lại cũng tàn khốc không kém."

Hóa ra là như vậy. Tự mình gieo nhân nào thì gặt quả nấy, không phải là một câu nói suông. Suy nghĩ một lát, tôi lại hỏi tiếp: "Vậy thím là ai? Tại sao lại trú ngụ trên người thím Trương? Tại sao thím lại đòi ăn thịt bé Lê Đán nữa?"

Sau khi nghe xong câu chuyện về sinh vật nhỏ kia, tôi gần như chắc chắn thím cũng là một loài linh vật như thế. "Xì." Thím bĩu môi đầy khinh thường: "Cái thằng nhóc vừa bẩn vừa hôi đó, ta thèm vào mà ăn. Chẳng qua ta thấy thú vị nên trêu đùa một chút thôi. Còn về việc mượn xác thím Trương, đây là ta dùng 'suất' mượn được đấy."

"Hả?" Tôi kinh ngạc: "Cái này cũng có 'suất' sao?"

"Tất nhiên rồi." Thím khẽ rùng mình một cái, những sợi dây thừng trói chặt bỗng chốc rơi rụng hết. Thím vươn vai rồi nói tiếp: "Dạo trước cái xưởng rượu bị hỏa hoạn, có hai con chồn nhỏ con của một gia đình bị ngạt khí mà đi. Cái thằng nhóc hư đốn đó không những lôi đuôi chúng ra nghịch ngợm mà mẹ nó còn đá bọn nhỏ thêm mấy cái. Người mẹ của chúng uất hận nên định tìm đến cửa báo thù. Ta phải nói hết lời mới mượn được cái 'suất' này đấy. Nói cho cùng, nếu không phải nhờ cháu thu dọn sạch sẽ cho hai linh hồn nhỏ đó thì mẹ chúng cũng không dễ dàng đồng ý như vậy đâu."

"Tôi làm vậy khi nào..." Tôi chợt nhớ ra: "Chẳng lẽ là hai con vật nhỏ đã mất mà tôi chôn dưới gốc cây liễu trước đây sao?" Lúc đó tôi sợ chúng ăn phải thuốc chuột, sợ làm ảnh hưởng đến chó mèo nhà hàng xóm nên mới đem chôn đi... Thảo nào thím Trương sau khi 'phát điên' lại cứ ngồi khóc dưới gốc liễu nhà tôi.

"Đúng rồi đó." Thím tùy ý vuốt lại mái tóc rối: "Thế nên mới nói cháu lương thiện, làm việc tốt dù nhỏ nhặt cũng là đang tích đức cho chính mình đấy."

"Được rồi." Tôi gật đầu, cuối cùng cũng hiểu ra linh vật dẫn lối cho tôi vào căn phòng phía Tây nhà mợ chính là mẹ chồn kia. Hèn gì kích thước của nó lại lớn đến thế. "Gửi lời cảm ơn của tôi tới cô ấy nhé. Và cũng cảm ơn thím nữa. Nhưng tôi vẫn chưa biết thím là ai. Sư phụ của thím là ai? Có phải là vị Tam Thái Gia kia không? Tôi ít nhất cũng phải biết ai đã giúp đỡ mình chứ?"

Thím Trương cười khanh khách: "Chính cháu đã tự giúp mình đấy thôi. Còn về việc sư phụ ta là ai ư... Lần tới khi gặp lại trong mơ, hãy cứ hỏi thử cục bông trắng nhỏ trong lòng cháu xem. Hẹn ngày tái ngộ, Phương Thiên Tục."

"Này... thím đợi đã..." Nhưng thím không trả lời nữa.

Cơ thể thím Trương bỗng rùng mình một cái, ánh mắt đờ đẫn đi. Một lát sau, đôi mắt thím dần dần trở nên tỉnh táo và minh mẫn. Thím ngẩng đầu nhìn tôi với vẻ đầy thắc mắc, giọng nói có chút yếu ớt: "Thiên Tục đấy à? Sao cháu lại ở đây?"